71_banner_web-01.jpg 67_dao-tao-lai-xe.jpg 70_ben-sherman-banner-small.jpg

Dao Vu Corp

(04)63.282.111 - 0975.271.987

Nếu bạn muốn tìm trung tâm HỌC LÁI XE Ô TÔ thì hãy đến với chúng tôi! Mức phí rẻ nhất và chất lượng đào tạo tốt nhất!

Kỹ thuật lái xe số tự động (AT) (Phần 1)

Ngày đăng: 15/02/2016

Ngay từ đầu nên luyện cách vào xe thế nào cho chuẩn, tránh trường hợp chân nọ tranh chân kia. Mở cửa xe bằng tay trái, lên xe từ tốn, không để vấp chân vào bậc cửa. Xuống xe cũng thế, có người xuống xe mà bị hụt chân ...

Các kỹ thuật cơ bản khi lái xe số tự động

Lên xe đóng cửa và đóng chốt an toàn

Bắt đầu chỉnh nghế

Việc đầu tiên là chỉnh độ xa của nghế. Đối với xe số sàn thì phải chỉnh tầm nghế để làm sao cho khi đạp Côn hết tầm thi chân vẫn còn chùng một tí, nếu chùng nhiều thì sẽ bị ngồi quá gần vô lăng mà lái thiếu cơ động, nếu để nghế ngồi quá xa có thể đạp Côn không hết hành trình làm Côn cắt không hết. Tiếp tới chỉnh độ nghiêng tựa lưng của nghế, cố gắng chỉnh sao cho khi ta sát lưng vào nghế và duỗi thẳng tay trái, đặt thẳng bàn tay lên đỉnh vô lăng thì cườm tay vừa chạm đỉnh vô lăng. Với cách chỉnh nghế và tư thế ngồi như vậy sẽ giúp người lái vừa cắt côn đúng kỹ thuật, vừa ngồi thoải mái, tay quay vô lăng cũng nhẹ nhàng đủ lực, đủ vòng. Người mới lái xe thường do chưa quen mà căng thẳng nên hay ngồi sát vô lăng. Ngồi như thế trông thật gò bó, mới nhìn là biết ngay là mới học lái xe. Có người ngồi thẳng đơ lưng, lại có người ngồi như ngả ra trên lưng nghế. Cả hai cách ngồi đó đều không đẹp và không thuận lợi khi lái khẩn cấp. Chỉ nên chỉnh nghế để tựa lưng nghiêng vừa phải. Cách ngồi đẹp và đúng giúp lái xe thao tác tốt, lái được đường dài mà không mệt.

Những xe có thể chỉnh được ghế theo nhiều hướng, hoặc Vô lăng cũng có thể gật gù, thò thụt thì càng giúp lái xe dễ tìm cho mình vị trí lái đẹp nhất và thao tác thoải mái nhất rồi lưu lại vị trí ngồi vào bộ nhớ ưu tiên.

Đối với xe AT thì người lái không còn phải bận tâm đến chân côn, chỉ việc để chân trái lên bàn nghỉ.

Kỹ thuật lái xe số tự động (AT)

Thế tay trên vô lăng

Tay trái cầm ở vị trí số 10, ngón tay cái duỗi thẳng trên mặt dọc theo vành volang, các ngón khác khom lại theo vành của volang. Tay phải đặt ở vị trí số 3, ngón tay cái cũng duỗi thẳng trên mặt của vành volang, các ngón tay khác khom lại theo vành volang. Do cách cầm vô lăng như vậy nên khi cần xoa tay trên vô lăng thì ngón tay cái không bị vướng. Tư thế cầm vô lăng 10+3 là tư thế lái cơ bản. Khi lái một tay trái thì tay trái vẫn cầm ở vị trí số 10. Khi lái một tay bằng tay phải thì tay phải đặt ở vị trí số 2, cách phân bổ ngón tay vẫn giống khi cầm tay trái ở vị trí số 3.

Một số người có thói quen khi lái xe là cầm vô lăng ở số 6, 7, 5…Ở những vị trí này người lái không thể nào quay vô lăng nhẹ nhàng và linh hoạt được.

Có thể bạn quan tâm: Học lái xe B2 có đắt không

Về cơ bản, phải lái bằng hai tay, đặc biệt khi lái xe trên đường miền núi. Lái một tay chỉ nên khi đường thoáng, tầm nhìn xa, ít xuất hiện tình huống khẩn cấp – lúc đó ta có thể thư giãn tí chút bằng việc lái một tay. Tuy là lái một tay nhưng tay còn lại vẫn nên đặt ở vị trí cơ bản là số 10 hoặc số 2 ( khi lái một tay bằng tay phải ).

Khi cần lái sang trái thì tay phải vuốt sang bên trái, tay trái kéo xuống. Khi cần lái xe sang bên phải thì tay trái vuốt sang bên phải, tay phải kéo xuống. Khi cần lái có góc lớn thì bắt chéo tay để lái. Nhịp nhàng chuyển tay phía dưới đưa lên đỉnh volang. Lúc trả vô lăng để lấy lại hướng lái thì làm ngược lại.

Kỹ thuật bắt chéo tay lái không nên lạm dụng nhiều, chỉ dùng khi chuyển hướng lái gấp, vòng quay hẹp. Không thực sự cần thiết thì không bắt chéo tay để lái, vì trong nhiều trường hợp khi bắt chéo tay để lái thì tay nọ có thể khóa tay kia, cả hai tay bị sử dụng mà thiếu đi một tay dự phòng khi cần phanh tay bổ trợ. Góc cua gấp, bán kính bé thì mới phải dùng kỹ thuật bắt chéo tay.

Một số người có thói quen thả tay lái để vô lăng tự quay trả lại. Đây là cách lái không đúng kỹ thuật. Không phải lúc nào vô lăng cũng tự quay trả như ý muốn, đặc biệt nếu xe vận hành trên đường chất lượng kém, đường cấp phối, đường có đá dăm, cua gấp, đặc biệt là đường miền núi. Tình huống đi đường miền núi, đường đá dăm mà lại cua, khi xe nghiến phải một bên của cục đá, xe có thế lắc nghiêng và vằng tay lái, nếu khi đó ta bỏ tay lái để vô lăng tự quay thì sẽ dễ gặp tai nạn…

Quay vô lăng như thế nào là đủ và đúng lúc để có thể chuyển hướng xe theo ý muốn – đây chính là cảm giác lái. Muốn có được cảm giác lái thì người lái xe phải luyện tập. Ở đây cũng thể hiện sự khéo léo của người lái xe. Cách luyện tốt nhất là kẻ hình zíc zắc mà lái theo, thu hẹp dần độ rộng đường zíc zắc là cách tốt nhất. Bạn có thể thử tay lái của mình để xem sự khéo léo và cảm giác lái như sau: Xếp cọc tiêu cao ngang với hai gương chiếu hậu (ở hai bên thành xe trước người lái), hai cọc hai bên, mỗi cọc cách mép ngoài gương 10 cm. Phóng xe qua với tốc độ khoảng 40 km/g, cọc tiêu có chạm gương không? Phải luyện nhiều mới có thể tự tin để lái được. Khái niệm cảm giác lái còn phải đi kèm với tốc độ. Có thể bạn lái qua được với tốc độ chậm, nhưng không qua được với tốc độ nhanh. Hãy luyện cảm giác lái bắt đầu bằng tốc độ chậm rồi tăng dần lên. Cảm giác lái tốt là cảm giác tốt với khoảng cách cộng với tốc độ. Cùng một đoạn đường mà có người lái chậm, trong khi đó lại có người nhẹ nhàng nhanh chóng vượt qua. Tất nhiên cũng còn một số yếu tố khác ảnh hưởng tới cảm giác lái như: chủng loại, đẳng cấp của xe…, nhưng ở đây ta chỉ nhấn mạnh đến kỹ thuật cơ bản mà người lái cần phải nâng cao. Khi lái, không nên vặn người khi quay vô lăng, tránh để sảy ra các trường hợp nguy hiểm mà không xử lí kịp thời. Phải lái làm sao để người đi sau nhìn lên thấy xe của bạn chạy ôm cua dẻo mà vẫn bám sát vạch phân cách, không lấn sang phần đường ngược lại.

Có thể bạn quan tâm: Phí học lái xe ô tô B2

Tin liên quan